Leser/innenkommentare

VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI SỞ HỮUCÁCNƯỚC ĐANG vững mạnh

von nhathi annhien750 (2019-07-16)



một.1. định nghĩa và tính tất khách quan của FDI
1.1.1. định nghĩa
đầu cơ trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư trong ấyngười bỏ nguồn vốn và người dùng vốn là một chủ thể. Sở hữutức lànhữngdoanh nghiệp, cáccá nhân người nước ngoài ( những chủ đầu tư ) trực tiếp tham dự vào giai đoạnquản lí, dùngvốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu cơnhằm thu hồi đủ vốn bỏ ra.

1.1.2. Tính thế tất khách quan của đầu cơ trực tiếp nước ngoài
Trong lịch sử toàn cầu, đầu tư nước ngoài đã từng xuất hiện ngay trong khoảng thời tiền tư bản. Cáccông ty của Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, tình nhân Đào Nha là nhữngtổ chứcđi đầu trongngành này dưới hình thức đầu cơ vốn vào những nước châu Á để khai thác đồn điền và cộngvớingành nghề khai thác đồn điền là nhữngngành nghề khai thác khoáng sản nhằm phân phốinguyên liệu cho các ngành công nghiệp ở chính quốc.

Trong thế kỷ XIX, do công đoạntích tụ và tập trung tư bảnnâng cao lên mạnh mẽ, những nước công nghiệp phát triểnkhi bấy giờ đã tích luỹ được các khoản tư bản khổng lồ,đấy là tiền đề quan yếutrước nhất cho việc xuất khẩu tư bản. Theo Tìm hiểu của Lênin trong tác phẩm “chủ nghĩa đế quốc, giai đoạntột độ của chủ nghĩa tư bản” thì việc xuất khẩu tổng thể đã trở nênđặc trưngcơ bản của sự phát triểnmới nhất về kinh tế giai đoạn “đế quốc chủ nghĩa”. Tiền đề của việc xuất khẩu tư bản là “tư bản thừa” xuất hiện trongcác nước đương đại. Nhưng thực chất của vấn đề đó là 1hiện tượng kinh tế mang tính tất yếu khách quan, trong khithời kỳtích trữ và tụ họp đã đạt đến1mức độnhất quyết sẽ xuất hiện nhu cầu đầu cơ ra nước ngoài. đấy chính là giai đoạntăng trưởng của sức cung ứngxã hội tới đọ đac vượt ra khỏi phạm vi chật hẹp của 1quốc gia, hình thành lên quy mô cung ứng trên khuôn khổ quốc tế. thường nhật, nền kinh tế ở những nước công nghiệp đã vững mạnh, việc đầu tư ở trong nước không còn nữa. Để tăng thêm lợi nhuận, các nhà tư bản ở các nước hiện đại đã thực hiệnđầu tư ra nước ngoài, thương là vào các nước lạc hậu hơn vì ở đấycácyếu tố đầu vào của cung ứng còn thấp hơn nên lợi nhuận thu được thường cao hơn. chẳng hạn như vào thời khắcđầu thế kỷ XX, lợi nhuận thu được từcác hoạt động đầu tưở nước ngoài ước lượng khoảng 5% trong 1 năm, cao hơn đầu cơ ở trong những nước hiện đại. Sở dĩ như vậy là vì trong các nước còn lạc hậu, tư bản vẫn còn ít, giá đất đai tương đốirẻ, tiên công hạ và vật liệuphải chăng. Mặt khác, cáccông ty tư bản to đang cần nguồn nguyên liệu vànhững tài nguyên thiên nhiên khác, đảm bảo phân phối ổn định và đáng tin cậy cho việc phân phối của họ. Điều này vừa tạo điều kiện chonhữngcông tylớn thu được hưởng nhuận cao, vừa giúp họ giữ vững vị trí độc quyền.

Tham khảo thêm >>> giá thuê viết luận văn

Theo Lênin thì “xuất khẩu tư bản” là một trong năm đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản, duyệt xuất khẩu tư bản,những nước tư bản thực hành việc bóc lột đối sở hữucácnước lạc hậu và thường là thuộc địa của nó. Nhưng cũng chính Lênin lúc đưa ra “chính sách kinh tế mới” đã nhắc rằng:những người cùng sản phải biết lợi dụng nhữngthành quảkinh tế và kỹ thuậtkỹ thuật của Chủ nghĩa Tư bản thông quahình thức “ tư bản nhà nước”. Theo quan niệm này phổ biếnnước đã “chấp nhận” phần nào sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản để vững mạnh kinh tế, như thế với thể còn nhanh hơnlà tự thân di chuyển hay đi vay vốn để tậu lại nhữngcông nghệ của những nước công nghiệp vững mạnh. Mặt khác,mức độ “bóc lột” của những nước tư bản còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị của nước kết nạpđầu tư tư bản. nếu trước đây, hoạt động xuất khẩu tư bản của những nước đế quốc chỉ phải tuân theo pháp luật của chính họ thì ngày naynhững nước hấp thuđầu tư đã là các quốc gia độc lập cóchủ quyền, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải tuân theo luật pháp, sự quản lý của chính phủ sở tại và thông lệ quốc tế. Nếunhững chính phủ của nước sở tại khôngphạm nhữngsai lầm trong điều hành vĩ mô thì sở hữu thể hạn chếđược những thiệt hại của hoạt động lôi kéođầu tư trực tiếp nước ngoài.

Muốn thực hiệnđầu cơ trực tiếp nước ngoài vào 1 nước nàođấy, nước nhận đầu tư phải sở hữucác điều kiện tối thiểu như: hạ tầngcơ sở vật chất đủ đảm bảo những điều kiệncần thiết cho hoạt động sản xuất và hình thành một sốngànhnhà sản xuất phụ trợ chuyên dụng cho cho nhu cầuphân phối và đời sống. Chính vì vây, các nước vững mạnh thường chọn nước nào sở hữu điều kiện kinh tếhơinâng cao hơn để đầu tư trước. Còn lúc phải đầu tư vàocác nước lạc hậu, chưa cócác điều kiện tối thiểu cho việctiếp nhậnđầu cơ nước ngoài thì những nước đi đầu cơ cũng phải dành 1 phần vốn cho việc vun đắp hệ thống cơ sở vật chất vật chấtcơ sở và 1 số lĩnh vựcnhà cung ứng khác ở mức tối thiểu đủ đáp ứng yêu cầu của phân phối và một phần nào đó cho cuộc sống sinh hoạt của bản thân các người nước ngoài đang sống và khiến cho việc ở ấy.

Sau mỗi chu kỳ kinh tế, nền kinh tế của những nước công nhiệplớn mạnh lại rơi vào một cuộc suy thoái kinh tế. Chính lúcnày, để vượt qua giai đoạn khủng hoảng và tạo các điều kiệnphát triển, đòi hỏi phải đổi mới tư bản nhất quyết. phê chuẩn hoạt động đầu cơ trực tiếp nước ngoài, những nước công nghiệp cóthể chuyển những máy móc, vật dụng cần thay thế, sangnhững nước kém phát triển hơn và sẽ thu hồi 1 phần trị giá để bù đắp các khoản chi phíkhổng lồ cho việcmuanhữngđồ vật máy móc mới. Cácthành tựukỹ thuậtkhoa họcngày càngphát triển mạnh mẽ và nhanh chóng đi vào ứng dụng trong cung cấp và đời sống, những chu kỳ kinh tế ngày một rút ngắn lại. vì vậy, đề nghị đổi mới máy móc,thiết bịcàng ngày càngthúc bách hơn. ngày nay, bất kì trọng tâmkỹ thuậthiện đại nào cũng cần yếuthị phần tiêu thụ kỹ thuậtcái2, vớinhư vậy mới đảm bảo thường xuyên đổi mới kỹ thuật- kỹ thuật mới.

một.2. VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI SỞ HỮUCÁCNƯỚC ĐANG vững mạnh
một.2.1. Cácảnh hưởng
– vững mạnh kinh tế:

mục tiêucơ bản trong lôi kéo FDI của nước chủ nhà là thúc đẩylớn mạnh

kinh tế. mục tiêu này được thực hiệnchuẩn ytác độnghăng hái của FDI đếnnhữngnguyên tốquan yếu quyết định tốc độnâng cao trưởng: Bổ sung vốn đầu tư trong nước và cải thiện cán cân trả tiền quốc tế; tiếp thu chuyển giao công nghệtiên tiến, kỹ xảo chuyên môn và tăng trưởng khả năngkhoa học nội địa; vững mạnh nguồn nhân lực và tạo việc làm; thúc đẩy xuất nhập cảng và tiếp cận vớithị trường thế giới; tạo kết liên giữa các đơn vị quản lý công nghiệp.

– vốn đầu tư và cán cân trả tiền quốc tế.

FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại tê của các nước nhận đầu tưđặc trưng là đốivớicác nước đang lớn mạnh.

đông đảonhững nước đang lớn mạnh đều rơi vào chiếc“vòng luẩn quẩn” đó là: Thu nhập tốt dẫn tới tiết kiệmthấp, bởi vậyđầu tưrẻ rồi hậu quả lại là thu nhập tốt. Hiện trạnglẩn quẩn quanh này chính là “điểm nút” khó khănnhất mà các nước này phải vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế hiện đại. phổ thông nước lâm vàohiện trạngbê trễ của sự đói nghèo bởi lẽ kochọn lựa và tạo ra được điểm đột phá chuẩn xácmột mắt xích của “vòng luẩn quẩn” này. Chướng ngạilớn nhất để thực hiện điều ấyđối sở hữucác nước đang vững mạnhđó là tài chínhkỹ thuật.nguồn vốn là hạ tầngđể tạo ra công ăn việc khiến cho trong nước, đổi mới kỹ thuật, kỹ thuật, tăng năng suất lao động… từấy tạo tiền đề tăng thu nhập, nâng cao tích lũy cho sự phát triển của xã hội. tuy nhiên, để tạo vốn cho nền kinh tế giả dụ chỉ chờ mong vào tích lũy nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi sẽ là tụt hậu trong sự vững mạnhchung của thế giới. vì thế vốn nước ngoài sẽ là một “cú hích” để góp phần đột phá cái vòng quẩnấy. Đặc biết FDI là 1nguồn quan yếu để khắc phụchiện trạng thiếu vốn mà kogây nợ cho nước nhận đầu cơ. Hơn nữa luông vốn nàymang lợi thế hơn đối sở hữu vốn vay ở chỗ: Thời hạn trả nợ vốn vay thường nhất thiết và thỉnh thoảng quá ngắn socómột số Công trìnhđầu tư, còn thời hạn của FDI thì thườngcởi mở hơn.

Theo mô hình lý thuyết “ 2 lỗ hổng” của Cherery và Strout,vớihai cản trở chính cho sự vững mạnh của mộtquốc giađó là: (1) Tiết kiệm ko đủ đáp ứng cho nhu cầu đầu tư được gọi là: “ lỗ hổng tiết kiệm”. (2) Thu nhập của hoạt động xuất khẩukhông đủ đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động nhập khẩu được gọi là: “ lỗ hổng thương mại”. phần nhiều ở nhữngnước đang lớn mạnh2 lỗ hổng trên rất lớn, cho nên FDI còn là1 nguồn quan trọngkhông chỉ để bổ sung vốn đầu tưkhái quátmà cả sự thiếu hụt về ngoại tệ kể riêng bởi vì FDI góp phần nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và mở mang khả năng xuất khẩu của nước nhận đầu cơ, thu 1 phần lợi nhuậntừcáctổ chức nước ngoài, thu ngoại tệ trong khoảngcáchoạt động nhà sản xuấtdùng cho cho FDI.

– Chuyển giao và phát triển công nghệ:

FDI được coi là nguồn quan trọng để vững mạnh khả năng khoa học của nước chủ nhà. Vai trò này được mô tả qua haigóc cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn mangtừ bên ngoài vào và tăng trưởng khả năng khoa học của cáccơ sở vật chất nghiên cứu, vận dụng của nước chủ nhà. Đây làcácmục tiêuquan yếu được nước chủ nhà mong chờtrong khoảngnhững nhà đầu cơ nước ngoài.

Chuyển giao khoa họcchuẩn y FDI thường được thực hiệnchính yếu bởi những TNCs, dưới các hình thức: Chuyển giao trong nội bộ giữa những chi nhánh của một TNCs và chuyển giao giữa những chi nhánh của các TNCs. các nămgần đây, những hình thức này thường đan xen nhau vớicác đặc điểm rất phổ thông.

số đôngkỹ thuật được chuyển giao giữa những chi nhánh của TNCs sang nước đang lớn mạnh ở hình thức 100% vốn nước ngoài và đơn vị liên doanh mangtoàn bộ vốn nước ngoài, dưới các hạng mục chính yếu như các tiến bộ kỹ thuật, sản phẩm công nghệ, khoa họckiểu dáng và xây dựng,công nghệrà soát chất lượng, khoa họcđiều hành, khoa họcmarketing.

Nhìn chung, các TNCs rất tránh chuyển giao cáckhoa họcmới với tính cạnh tranh cao cho các chi nhánh của chúng ở nước ngoài vì sợ lộ bí ẩn hoặc mất bản quyền khoa học do việc bắt trước, cải biến hoặc fake lại khoa học của cáctổ chức nước chủ nhà. Mặt khác, do nước chủ nhà còn chưagiải quyết đượcbuộc phảitiêu dùngkỹ thuật của những TNCs.

kế bên chuyển giao kỹ thuật sẵn với, duyệt y FDIcác TNCs còn góp phần tích cực đối cótăng cường năng lực nghiên cứu và lớn mạnhkỹ thuật của nước chủ nhà. những kết quả cho thấy hồ hếtcác hoạt động R&D của những chi nhánh TNCs ở nước ngoài là cải biến khoa học cho thích hợpsở hữu điều kiện dùng của địa phương. Dù vây, những hoạt động cải tiến công nghệ của cácdoanh nghiệp ĐTNN đã tạo ra nhiều mối quan hệ kết liêncung cấpdịch vụkỹ thuậttừnhữngcơ sở vật chất nghiên cứu, vận dụngkhoa họctrong nước. Nhờ ấy đã gián tiếp nâng cao cường năng lựcvững mạnhkhoa học địa phương. Mặt khác, trong qúa trìnhtiêu dùngkỹ thuật nước ngoài, các nhà đầu tư và phát triểnkỹ thuật nước ngoài, các nhà đầu cơ và lớn mạnhkỹ thuật trong nước học được bí quyết thứcbề ngoài, chế tạo…công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợpcó điều kiệndùng của địa phương và biến chúng thành khoa học của minh. Nhờ mangnhữngtác độngtích cực trên, khả năng công nghệ của nước chủ nhà được nâng cao cường, vì vậytăngnăng suất các thành tố, nhờ đấyxúc tiến được phát triển.

– phát triển nguồn nhân công và tạo việc làm cho

Nguồn nhân lựccóảnh hưởng trực tiếp đếnnhững hoạt động cung cấp, những trở ngại phường hội và mức độtiêu tiêu dùng của dân cư. Việc cải thiện chất lượng cuộc sống thông qua yđầu tư vào những lĩnh vực: sức khoẻ, dinh dưỡng, giáo dục,tập huấn nghề nghiệp và kỹ năng quản lý sẽ nâng cao hiệu quảtiêu dùng nguồn nhân lực, tăng được năng suất cần lao và cácyếu tốphân phối khác, nhờ ấythúc đẩytăng trưởng.

không những thế, tạo việc khiến cho chokhông chỉ tăng thu nhập chongười lao động mà còn góp phần hăng háigiải quyếtnhữngvấn đề phố hội. Đây là nhữngnguyên tốcótác động rấtlớntới tốc độ vững mạnh.

FDI tác động trực tiếp đếncơ hội tạo ra công táclàm choduyệt y việc sản xuất việc khiến trong các hãng sở hữuvốn đầu cơ nước ngoài. FDI còn tạo ra nhữngthời cơ việc làmtrong cáctổ chức khác khicác nhà đầu tư nước ngoài tìmhàng hoá nhà sản xuấttrong khoảngnhữngnhà sản xuấttrong nước, hoạc thuê họ thông quacáchợp động gia công chế biến. thực tại ở 1 số nước cho thấy FDI đã động góp hăng hái tạo ra việc khiến trong những doanh nghiệp quản lýtiêu dùngphổ thôngcần lao như lĩnh vực may mặc, điện tử, chế biến.

duyệt khoản trợ giúpnguồn vốn hoặc mở các lớp tập huấn dạy nghề, FDI còn góp phần quan trọng đối cólớn mạnh giáo dục của nước chủ nhà trong nhữngngành giáo dục đại cương, dạy nghề, tăng năng lực quản lý. Phổ quátnhà ĐTNN đã động góp vào quỹ phát triển giáo dục phổ thông, sản xuấtmột số thiết biết giảng dạy cho cáccơ sở giáo dục của nước chủ nhà, công tycác chương trình phổ cập kiếm thức cơ bản cho công nhân bản địa khiến việc trong Công trình (trong đấymangphổ thônglao động được đi tập huấn ở nước ngoài).

Xem thêm >>> https://medium.com/@nguyenlehaphuong1990/dich-vu-viet-bao-cao-thuc-tap-b33a5a6572d3

FDI tăng năng lực điều hành của nước chủ nhà theo phổ biếnhình thức như các khoá học chính quy, không chính quy, và họcphê chuẩnkhiến cho.

Tóm lại, FDI mang đếnlợi ích về tạo công ăn việc làm. Đây là1tác động kép: tạo thêm việc làm cho cũng sở hữunghĩa lànâng cao thêm thu nhập cho người lao động, trong khoảngấy tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước. tuy nhiên, sự động góp của FDI đối với việc khiến trongcác nước nhận đầu tư phụ thuộc số đông vào chính sách và khả năng công nghệ của nước ấy.

– thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận vớithị phầnthế giới

Xuất nhập cảngcó mối quan hệ nhân quả vớităng trưởngkinh tế. Mối quan hệ này được diễn tả ở các khía cạnh” xuấtnhập khẩu cho phép khai thác lợi thế so sánh, hiệu quả kinh tế theo quy mô, thực hành chuyên môn hoá sản xuất; nhập khẩu bổ sung những hàng hoá, dịch vụ khan thi thoảng chophân phối và tiêu dùng; xuất nhập cảng còn tạo ra cácảnh hưởng ngoại ứng như xúc tiếnluận bànthông tindịch vụ,nâng cao cường kiến thức marketing cho cáccông ty nội địa và lôi kéo họ vào màng lướiphân phốithế giới. Đông đảocácnguyên tố này sẽ đẩy nhanh tốc độ phát triển.

duyệt y FDI, các nước đang to mạnhcó thể tiếp cậnvớithị phầntoàn cầu bởi vi, toàn bộcác hoạt động FDI đều do cáctổ chức xuyên quốc giathực hành, mà nhữngđơn vịnày có lợi thế trong việc tiếp cận mangngười tiêu dùng bằngnhữnghợp động dài hạn dựa trên cơ sở thanh thế và uy tín của họ về chất lượng, ngoại hình sản phẩm và giao hàng đúnghẹn.

– kết liêncác cấp công nghiệp

liên kết giữa các ngành công nghiệp được trình bàycốt yếu qua tỷ trọng trị giá hàng hoá (tư liệu cung ứng, nguyên vật liệuđầu vào), dịch vụbàn bạc trực tiếp trong khoảngnhữngtổ chức nước ngoài ở nước chủ nhà. Việc hình thànhnhữngliên kết này là hạ tầngquan trọng để chuyển giao kỹ thuật, tăng trưởng nguồn nhân công và thúc đẩy xuất nhập cảngcủa nước chủ nhà.

Cụ thể: Qua các hoạt động sản xuất nguyên vật liệu,dịch vụ cho nhữngcông ty nước ngoài sản xuất hàng xuất khẩu, cáccông ty nội địa vững mạnh năng lực cung cấp của mình (mở rộng phân phối, bắt chước trơ trọi tựcung ứng vàthiết kế hàng hoá…). Sau mộtthời gian nhât định cácdoanh nghiệp trong nước với thể tự xuất du nhập được.

– cáctác độngquan trọng khác

Ngoài cáctác độngđề cập trên, FDI còn tác động đángnóiđếncácnguyên tốtác độngđếnphát triển kinh tế như: chất lượng môi trường, khó khăn và độc quyển, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, hội nhập khu vực và quốc tế.

mặc dầu chất thải của nhữngđơn vị nước ngoài, nhất là trong các đơn vị quản lý khai thác và chế tạo, là 1 trong cácnguyên doquan trọng gây nên hiện trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng ở những nước đang tăng trưởngbên cạnh đósở hữunhiều nghiên cứu cho thấy những TNCs rất chú trọng vàhăng háibảo kê môi trường hơn nhữngđơn vị nội địa. Bởi vì,thứ tựphân phối của họ thường được tiêu chuẩn hoá cao nên dễ đáp ứng đượcnhững tiêu chuẩn kiểm soát an ninhmôi trường của nước chủ nhà. Hơn nữa, các TNCs thường với tiềm lực tài chínhtovì thếmang điều kiệntiện dụng trong xử lý các chất thải và tham gia góp quỹ,tương trợtài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường.

FDI tác động mạnh tớicạnh tranh và độc quyền thông quaviệc thêm vào những đối thủ khó khăn hoặc dùng sức mạnh của mình để khống chế thị phần ở nước chủ nhà.trong khoảngxúc tiếnkhó khăn, FDI góp phần làm nền kinh tế hoạt động mang hiệu quả hơn, nhờ đấy đẩy nhanh tốc độtăng trưởng kinh tế.

Nhờ có FDI, cơ cấu nền kinh tế của nước chủ nhà dịch chuyểnmau chóng theo chiều hướng tăng nhanh tỷ trọngcác lĩnh vực công nghiệp nhà cung cấp và giảm tỷ trọng các đơn vị quản lý nông nghiệp, khai thác trong GDP.

FDI là 1 trong những hình thức quan yếu của các hoạt động kinh tế đối ngoại và nó vớiliên quan chặt chẽ tớiphần nhiềucác hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá- xã hội của tất cả các nước, cho nên sự phát triển của lĩnh vực này thúc đẩy sự hoà nhập khu vực và quốc tế của nước chủ nhà.

 

>>>> Lý luận chung về quản lý nhà nước với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài